Kinh nghiệm kích thích gà để nhiều trứng

AE808 – Những hộ chăn nuôi cần thật chú ý ở tất cả các khâu chuẩn bị như : chuồng trại, chọn gà giống, kỹ thuật chăm sóc để mang lại hiệu quả cao nhất trong chăn nuôi.

Khâu chuồng trại

Chuồng nên làm nơi khô ráo thoáng mát, đáy chuồng tráng xi măng phẳng, dốc 3 – 5 độ để dễ vệ sinh, dùng bạt che, bạt dứa hoặc may bao dứa. bên ngoài chuồng có rèm che để duy trì nhiệt độ chuồng và ngăn gió lùa hoặc mưa tạt vào chuồng, có thể che bằng kén ép hoặc ván lợp.

Trong hai tuần đầu ấp, có thể đựng thức ăn cho 80-100 con trên phên tre hoặc khay tôn (kích thước 60×80 cm, cao 2,5-3 cm). Từ tuần thứ 3 có thể sử dụng 2 loại. máng uống (máng tròn hoặc máng dài) Trước cửa chuồng nên có hố sát trùng hoặc khay đựng vôi bột để đảm bảo an toàn sinh học.

Khâu chọn gà

Nên chọn giống gà chuyên trứng, thích nghi với điều kiện khí hậu vùng nuôi: gà con ngày tuổi: nhanh nhẹn, mắt sáng, bộ lông mượt, bụng gọn, chân mập, bóng; Loại bỏ ngay những gà con bị khô chân, vẹo mỏ, vẹo bàn chân, hở rốn, sưng bụng và rụng lông.

Khâu chọn gà
Khâu chọn gà

Khi gà được 9 tuần tuổi, 20 tuần tuổi tiến hành lựa chọn gà đưa vào nuôi hậu bị. Dựa vào các đặc điểm ngoại hình cần chọn như: Đầu tròn, nhỏ; mắt to, sáng; mỏ bình thường; mào và tích đỏ tươi; thân hình cân đối; khoảng cách giữa xương cuối lưỡi hái và xương háng rộng; da chân bóng; lông màu sáng, bóng mượt; trạng thái nhanh nhẹn.

Trong quá trình nuôi đẻ, cần định kỳ loại thải những con gà đẻ kém nhằm tiết kiệm thức ăn.

Kỹ thuật chăn nuôi

Giai đoạn gà 0 – 9 tuần tuổi

Thắp điện trong quây trước khi úm gà 1 – 2 giờ. Mật độ gột 20 – 25 con/m2. Trong quá trình úm cần nới dần quây theo độ tuổi của gà, nhất là khi nhiệt độ tăng cao.

Ngày đầu tiên nên cho gà ăn ngô xay nhuyễn để tiêu thụ hết túi lòng đỏ, sau đó cho ăn hỗn hợp thức ăn chế biến phù hợp với giai đoạn phát triển của gà và một số loại thức ăn khác.

Cụ thể, trong 3 tuần đầu sử dụng thức ăn công nghiệp cho gà giai đoạn 1 – 21 tuần tuổi với tỷ lệ 30% trộn với cám ngô 60%, và cám gạo 10%. Từ tuần thứ 4 đến tuần thứ 10 dùng thức ăn cho gà giai đoạn 21 – 42 ngày với tỷ lệ 25% trộn với 60% cám ngô và 15% cám gạo. Thức ăn đã trộn không để quá 5 ngày. Cho gà ăn 6 – 8 lần/ngày để gà ăn tự do cả ngày lẫn đêm. Đảm bảo đủ nước uống sạch, bổ sung Vitamin C, đường Gluco vào nước cho gà uống.

Giai đoạn gà 10 – 20 tuần tuổi

Ở thời gian này chỉ cần ánh sáng tự nhiên. Mật độ khi gà 10 – 17 tuần tuổi từ 6 – 10 con/m2, khi 17 – 20 tuần tuổi nuôi với mật độ 3 – 5 con/m2.

Thức ăn hàng ngày gồm 15% thức ăn công nghiệp chuyên dụng trộn với 60% cám ngô và 25% cám gạo. Vệ sinh chuồng trại hàng ngày, quan sát hoạt động của gà để nhanh chóng điều chỉnh nếu có biểu hiện bất thường. Đồng thời, nhìn chung, bạn nên hiểu khi gà đẻ có chế độ cho ăn đầy đủ. Hết 20 tuần tuổi, chọn gà đạt tiêu chuẩn chuyển sang đàn gà đẻ để nâng cao độ đồng đều của đàn.

chọn gà đạt tiêu chuẩn chuyển sang đàn gà đẻ để nâng cao độ đồng đều của đàn.
chọn gà đạt tiêu chuẩn chuyển sang đàn gà đẻ để nâng cao độ đồng đều của đàn.

Chọn những gà mái lên đẻ có ngoại hình phát dục tốt biểu hiện bằng độ bóng của lông mào tích, bụng mềm, xương chậu rộng. Đối với gà trống cần chọn những gà mào thẳng đứng, to, chân cao, hai cánh vững chắc úp gọn trên lưng, dáng hùng dũng.

Mật độ nuôi 3 – 5 con/m2, nếu có sân chơi có thể nuôi với mật độ 5 – 6 con/m2. Tiến hành chọn gà lúc trời mát. Định kỳ phun thuốc khử trùng khu vực chăn nuôi. Hàng ngày, vệ sinh máng ăn, máng uống. Tiêm phòng vaccin cho gà theo lịch.

Giai đoạn đẻ (trên 20 tuần tuổi)

Để gà ăn theo tỷ lệ đẻ của đànvà theo giống gà. Chế độ chiếu sáng ổn định 14 – 16 giờ/ngày. Chuẩn bị đủ ổ đẻ cho gà, trung bình 5 – 6 gà/ổ, ổ đẻ đặt ở những nơi tránh ánh sáng trực tiếp và phân bố đều trong chuồng.

Khu vực đẻ nên được lót trấu, rơm rạ sạch, định kỳ thay lót ổ đẻ 2 lần/tuần. Hàng ngày quan sát đặc điểm ngoại hình, hoạt động của gà (màu lông, rụng lông, màu sắc mào…) để biết có chế độ chăm sóc hợp lý, loại bỏ những con gà ốm, gà không đẻ ra khỏi đàn.

Dinh dưỡng đầy đủ và cân đối sẽ giúp gà cho năng suất ổn định trong thời gian dài. Cho gà ăn 2 lần/ngày, sáng 40% lượng thức ăn và chiều 60% lượng thức ăn. Có thể áp dụng bảng khẩu phần ăn cho gà như bảng sau.

bảng khẩu phần ăn cho gà
bảng khẩu phần ăn cho gà

Chú ý đến kích thước của trứng và vỏ trứng. Đối với trứng gà vỏ mỏng hoặc non, nên bổ sung canxi (trộn với thịt trai, bột xương băm nhỏ) vào bữa ăn tối. Nếu vỏ trứng nhỏ hơn bình thường thì nên tăng lượng thức ăn lên.

Để gà đẻ thương phẩm thay lông đồng loạt để tiếp tục đẻ trứng cho chu kỳ khác, cần phải dự đoán chính xác giá của quả trứng trong vòng 6-8 tuần tới (kể từ khi quá trình thay lông hoàn tất, đàn sẽ nở trở lại 6- 8 tuần sau).

Quy trình cho gà thay lông đồng loạt như sau: giảm thời gian chiếu sáng còn 8 – 10 giờ/ngày (tức là chỉ sử dụng ánh sáng tự nhiên của ban ngày).

Ngày thứ 1 – 2, cho gà nhịn đói và khát hoàn toàn. Ngày thứ 3 – 9, cứ 1 ngày cho ăn với lượng 40 – 50 g/con/ngày và cho uống nước theo nhu cầu, ngày kế tiếp cho nhịn đói và khát. Ngày thứ 10 – 60, cho ăn với lượng 70 – 80 g/con/ngày (khoảng 75% lượng thức ăn bình thường) và cho uống nước tự do.

Từ ngày thứ 61 trở đi cho ăn, uống tự do, tăng thời gian chiếu sáng lên 14 – 16 giờ/ngày. Bình thường gà sẽ đẻ trở lại sau khi thay lông 6 – 8 tuần.

Mỗi đàn gà đẻ chỉ nên thu trứng từ 1 – 2 chu kỳ nuôi, vì tỷ lệ chết ở chu kỳ sau sẽ cao hơn chu kỳ trước, hiệu suất đẻ giảm khoảng 15%, thời gian đẻ giảm hiệu suất đẻ. ngắn hơn chu kỳ trước; chất lượng vỏ trứng giảm; tăng lượng thức ăn.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.